CHIỀU HOANG BIỀN BIỆT - BIỀN BIỆT HỮU LOAN

19/03/2010,17:14:11 | 157 | 0
 

ĐƯỢC TIN NHÀ THƠ HỮU LOAN NHÀ THƠ ĐÁNG KÍNH VỀ NHÂN CÁCH VÀ TÀI THƠ
VĨNH BIỆT CÕI ĐỜI. XIN KÍNH CẨN THẮP NÉN TÂM HƯƠNG VĨNH BIỆT ÔNG. BÀI
THƠ MÀU TÍM HOA SIM GẮN VỚI CUỘC TÌNH THỦY CHUNG BI TRÁNG CỦA ÔNG SẼ
SỐNG MÃI VỚI THỜI GIAN...BÀI THƠ MÀ KHI CÒN NHỎ MỖI LẦN NGHE ĐỌC TÔI
THẤY RỜN RỢN VÀ SAY SƯA.

SAU ĐÂY XIN TẬP HỢP NHỮNG BÀI VIẾT HAY NHẤT VỀ NHÀ THƠ.




CHIỀU HOANG BIỀN BIỆT - BIỀN BIỆT HỮU LOAN

Nguyễn Trọng Tạo


nhtho-huuloan.jpg?w=201&h=300Nghe tin nhà thơ Hữu Loan vừa qua đời tôi bần thần nhớ lại câu thơ hay nhất của ông "Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt" trong bài thơ Màu tím hoa sim nối tiếng một thời. Bài thơ đã được in trên báo Chiến Sĩ  thời kháng chiến chống Pháp do ông làm chủ bút rồi được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và rất phổ biến ở miền Nam thời chiến tranh chống Mỹ. Nhưng sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm 1958 tên Hữu Loan cũng vắng bóng biền biệt trên văn đàn miền Bắc suốt 30 năm liền vì ông đã bỏ Hà Nội về quê trước khi người ta chưa kịp "kỷ luật" ông với "tội" tham gia nhóm NVGP. Nhạc sĩ Văn Cao kể cho tôi biết thuở đó vào một đêm rất khuya Hữu Loan mang một tay nải đến nhà Văn Cao rủ nhau ra hồ Thiền Quang tâm sự trước lúc rời Hà Nội. Họ đi mãi quanh hồ cho đến gần sáng. Dù Văn Cao muốn giữ ông lại nhưng Hữu Loan vẫn một mực ra đi quyết trở lại làm một "lão nông tri điền". Cuối cùng Văn Cao đã phải tiễn ông ra bến xe gần đó để về Thanh Hóa. Sau 30 năm đốn củi chở đá kiếm sống dưới chân núi Vân Hoàn (huyện Nga Sơn quê ông) Hữu Loan mới "tái xuất giang hồ" dọc đất nước khi có chính sách "Đổi mới" của Đảng Cộng Sản VN. Ông ra Hà Nội vào Huế rồi chu du vào Lâm Đồng thành phố Hồ Chí Minh gặp gỡ bạn bè văn nghệ.

Hồi đó tôi còn ở Huế một anh bạn đưa Hữu Loan từ Hà Nội vào và nhờ tôi đón ông về nhà. Nhà thơ đã 72 tuổi râu để dài nhưng trông ông vẫn khỏe như một lực điền nước da ngăm chắc cặp mắt lấp lánh với nụ cười tươi. Khi uống rượu với ông tôi được biết tháng trước ông từ Thanh Hóa ra Hà Nội thăm lại bạn bè và tá túc trong căn nhà hầm của nhà thơ Tú Sót (tức Chu Thành biên tập viên nhà xuất bản Thanh Niên 64 Bà Triệu - Hà Nội). Ông nói: Nhờ có chính sách "Đổi mới" trả lại tự do sáng tác cho các nhà văn thời NVGP ông mới quyết định tái xuất. Ông đưa tôi mấy tập thơ viết trong vở học trò. Đây là thơ ông viết trong 30 năm đốn củi chở đá ở quê. Tôi ngồi đánh máy lại cho ông 3 trường ca và một số bài thơ. Thơ ông cứ bậc thang lên xuống như hình thức "Đèo Cả" 40 năm trước nó gập ghềnh và hào sảng như con đường dốc đá mà ông đã tự mình xe đá. Tôi bảo ông dù đổi mới rồi nhưng thơ của bác vẫn khó in bởi vẫn cái tinh thần thơ khái trực thời NVGP lên án quyết liệt những tiêu cực của xã hội kiểu bài thơ "Cũng những thằng nịnh hót" ông từng viết. Tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường mời nhà thơ đến thăm Hội Văn Nghệ nói chuyện với anh em Văn nghệ Huế. Vì đông người nên có chiếc micro đặt trước mặt ông. Ông gạt đi. Không phải vì vướng mà vì ông không biết rằng phải nói vào đó thì tiếng ông mới được phóng to lên!!! Hóa ra 30 năm ông quên mất điều đó khiến mọi người cười ồ. Ông nói đây là lần đầu tiên sau rất nhiều năm ông mới được tiếp xúc và nói chuyện với đám đông dù ông đã từng nói trước đám đông trong cuộc cách mạng tháng Tám 1945 cướp chính quyền tại thị xã Thanh Hóa mà ông là một trong những nhà lãnh đạo lúc bấy giờ.

Phải khẳng định rằng Hữu Loan là nhà thơ cách mạng. Ông vừa làm một cán bộ cách mạng vừa cách mạng thơ. Bài thơ Đèo Cả của ông viết năm 1946 khi ông vào Liên khu 5 cùng với bài Nhớ Máu của Trần Mai Ninh đã mở ra một thời kỳ mới của thơ cách mạng với giọng thơ tráng ca hào sảng: "Đèo Cả! Đèo Cả/ Núi cao ngút/ Mây trời Ai Lao/ Sầu đại dương/ Dặm về hun hút/ Bia đá mù sương" "Người vá áo/ Thiếu kim mài sắt/ Người đập mảnh chai/ Vênh cằm cạo râu/ Suối mang bóng người/ Soi những về đâu ?". Rồi bài Màu tím hoa sim với một câu chuyện tình thật bi hùng: "Nhưng không chết/ Người trai khói lửa/ Mà chết/ Người gái nhỏ hậu phương./ Tôi về không gặp nàng/ Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối/ Chiếc bình hoa ngày cưới/ thành bình hương tàn lạnh vây quanh". Bài thơ này đã mở ra những bài thơ nổi tiếng khác như Núi Đôi của Vũ Cao Quê Hương của Giang Nam... Những câu chuyện tình kháng chiến ấy đều bắt nguồn từ mô-típ mà Hữu Loan đã xướng lên. Có lẽ với ý nghĩa lịch sử đó mà bài Màu tím hoa sim đã được một công ty mua bản quyền với giá 100 triệu đồng vào năm 2004 giúp tác giả sống tiếp những ngày vất vả ở quê. Sau 1954 Hữu Loan cũng là nhà thơ táo bạo cùng với Phùng Quán làm những bài thơ chống tiêu cực mở ra một quan niêm mới cho thơ tiếp cận đời sống xã hội cần lao. Nhưng chỉ mới bắt đầu đã bị dập tắt.

Đóng góp của Hữu Loan cho thơ cách mạng là không thể phủ nhận. Tuy vậy cuộc đời với nhiều trắc trở đã khiến ông sau khi "tái xuất" đã lại vội vã trở về cố thủ trong những tâm tư thầm kín. Theo tôi với những bài thơ yêu nước nổi tiếng một thời ông xứng đáng được tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT nhưng Giải thưởng đó vẫn chưa tìm đến ông. Hy vọng Nhà nước sẽ không bỏ sót những bài thơ xứng đáng của ông.

Giờ thì nhà thơ Hữu Loan đã vĩnh viễn xa chúng ta những người yêu và trân trọng thơ ông lẫn nhân cách thơ của ông. Tôi vẫn muốn một lần ghé thăm ông dưới chân núi Vân Hoàn nhưng từ nay dưới chân núi Vân Hoàn đã vắng bóng ông một nhà thơ cách mạng cương trực khí phách nhưng cũng đầy những câu thơ ứa lệ.


Chiều hành quân
Qua những đồi sim
N
hững đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt

Vĩnh biệt ông biền biệt Hữu Loan!

19.3.2010

NGUYỄN TRỌNG TẠO

 

Tiểu sử nhà thơ Hữu Loan: Ông tên thật là Nguyễn Hữu Loan sinh năm 1916 tại làng Vân Hoàn xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Ông học Thành chung ở Thanh Hóa đậu tú tài Tây năm 1938 tại Hà Nội (vì vậy ở quê thường gọi là cậu Tú Loan). Thời đó bằng tú tài rất hiếm rất ít người có nên ông được mời vào làm trong Sở Dây thép (Bưu điện) Hà Nội nhưng ông không làm mà đi dạy học và đã từng là cộng tác viên của các tập san văn học xuất bản tại Hà Nội. Năm 1939 ông tham gia Mặt trận Bình Dân rồi về tham gia Mặt trận Việt Minh tại thị xã Thanh Hóa.

Năm 1943 ông gây dựng phong trào Việt Minh ở quê nhà và khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra ông làm Phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn rồi được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa phụ trách các ty: Giáo dục Thông tin Thương chính và Công chính.

Trong kháng chiến chống Pháp Hữu Loan tình nguyện đi bộ đội phục vụ trong sư đoàn 304 và làm chính trị viên tiểu đoàn đồng thời làm chủ bút tờ Chiến Sĩ của sư đoàn.

Tháng 2 năm 1948 ông cưới cô Lê Đỗ Thị Ninh là người học trò cũ mới 16 tuổi. Cưới nhau xong ông lại lên đường ra mặt trận. Ba tháng sau ông được tin người vợ trẻ tuổi ở nơi quê chết đuối. Ông quá đau khổ viết lại chuyện hai người thành bài thơ Màu tím hoa sim.

Năm 1954 cưới Phạm Thị Nhu cô gái 17 tuổi. Cuộc hôn nhân này đã cho ông 10 người con và hơn 30 người cháu.  

Đầu năm 1955 ra khỏi quân đội ông về Hà Nội xin vào làm việc tại báo Văn Nghệ. Trong thời gian 1956-1957 ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958 ông bỏ Hà Nội về sống tại quê nhà và mất vào lúc 19 giờ ngày 18.3.2010

Các tác phẩm: Một số bài thơ đã được nổi tiếng: Màu tím hoa sim Đèo Cả Yên mô Hoa lúa Tình Thủ đô... và tập Thơ Hữu Loan

Tại miền Nam bài Màu tím hoa sim đã được hai nhạc sĩ Dũng Chinh và Phạm Duy phổ nhạc mỗi người theo cách riêng của mình nhưng đều nổi tiếng.

Vào tháng 10 năm 2004 Màu tím hoa sim đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: vitek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng.

Bấm vào nghe nhạc:

http://www.youtube.com/watch?v=5uiITXE9msk

http://www.esnips.com/doc/bee8632a-b568-44e0-8027-9f1f144854f0

http://www.youtube.com/watch?v=k4b2UglfrWw

thành kính phân ưu


Viết bởi donghoa 19 Mar 2010 12:59

(Nguồn: nttnew.vnweblogs)


 

MÀU TÍM HOA SIM

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu...

HỮU LOAN



HÔM NAY 18-3-2010 THI SỸ HỮU LOAN ĐÃ QUA ĐỜI
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt...

    Nhà thơ HỮU LOAN (14/6/1919 - 18/3/2010)

   Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 - lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi - Tôi ra Hà Nội thi tú tài để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy trong đó có Nguyễn Đình Thi Hồ Trọng Gin Trịnh văn Xuấn Đỗ Thiện và ...tôi - Nguyễn Hữu Loan.
      Với mảnh tú tài Tây trong tay tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ tổng thanh tra canh nông Đông Dương sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo tôi thường ghé lại xem và mua sách nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
      Bà tham Kỳ là một người hiền lành tốt bụng đối xử với tôi rất tốt coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay miệng lí nhí: "Em chào thầy ạ!" Chào xong cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to đen láy tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một "bà cụ non". Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn những buổi trưa hè nhằm lúc tôi ngủ trưa em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt...
      Có lần tôi kể chuyện "bà cụ non" ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe không ngờ chuyện đến tai em thế là em giận! Suốt một tuần liền em nằm lì trong buồng trong không chịu học hành... Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì tôi không nhớ nữa chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều đã kể chuyện em nghe rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: "Mới ốm dậy còn yếu lắm không đi được đâu" Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi...
     Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:   - Thầy có thích ăn sim không? Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ... Khi tôi tỉnh dậy em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.   - Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: - Ngọt quá.
      Như đã nói tôi sinh ra trong một gia đình nông dân quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em em cười. Hai hàm răng em đỏ tím đôi môi em cũng đỏ tím hai bên má thì... tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên em cũng cười theo!
      Cuối mùa đông năm ấy bất chấp những lời can ngăn hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi... lên tới bờ đê nhìn xuống đầu làng em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi...Tôi quay đầu nhìn lại... em vẫn đứng yên đó... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa...
      Những năm tháng ở chiến khu thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này nghe bạn bè kể lại khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng không chịu ra tiếp ai bao giờ...
      Chín năm sau tôi trở lại nhà... Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng tôi hỏi em hỏi rất nhiều nhưng em không nói gì chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi đã là một cô gái xinh đẹp...
      Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm " soạn kịch bản". Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn bảo rằng là: " yêu nhau thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo học giỏi Làm thơ hay... lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long huyện Nông Công tỉnh Thanh Hóa của gia đình em nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ nhưng khỏi nói hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
      Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh tôi phải tức tốc lên đường hành quân theo sư đoàn 304 làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường em vẫn đứng ở đầu làng nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi rồi quay đầu nhìn lại... Nếu như chín năm về trước nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
      Ba tháng sau tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948 em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long Nông Cống) vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy gần 60 năm qua vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.
      Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn... Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao sau đó có đợt chỉnh huấn cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra nói cho hết. Chỉ chờ có thế cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An tôi ngồi lặng đi ở đầu làng hai mắt tôi đẫm nước tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội. Những em nàng có em chưa biết nói "Khi tóc nàng đang xanh ..." ...Tôi về không gặp nàng...
      Về viếng mộ nàng tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa... Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
      Đến đây chắc bạn biết tôi là Hữu Loan Nguyễn Hữu Loan sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang "ở nhà trông vườn" ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chỗ "quê đẻ của tôi đấy" thuộc xã Mai Lĩnh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
      Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : Chiều hành quân qua những đồi sim. Những đồi sim những đồi hoa sim.Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết. Màu tím hoa sim tím cả chiều hoang biền biệt. Và chiều hoang tím có chiều hoang biết. Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

Ngun: Phanthanhvan.vnweblogs.com
 


video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích