TÂN TRẠNG NGUYÊN... ĐI ĐÊM ?

12/01/2010,08:34:54 | 342 | 2

TÂN TRẠNG NGUYÊN...ĐI ĐÊM ?

Nguyễn Thanh Mừng cứ kể lể dông dài vớ vẩn như thế suốt 108 lần xuống dòng với một giọng điệu giả cầy cách tân làm dáng hiện đại uốn éo cầu kỳ ngô nghê sáo mới...một cách rất khó chịu tịnh chẳng thấy câu nào có thể gọi là câu thơ ?"
                                                   ( Nhà thơ Trần Mạnh Hảo ) 


Vừa qua tạp chí VNQĐ đã công bố giải thường cuộc thi thơ văn hai năm (2008-2009).Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến hai bài thơ: Hào phóng thềm lục địa (HPTLĐ)của Nguyễn Thanh Mừng (giải A) và Thời đất nước gian lao (TĐNGL) của Nguyễn Việt Chiến (giải B)

Tác giả THỜI ĐẤT NƯỚC GIAN LAO tại phiên tòa

   Với Nguyễn Thanh Mừng hơn bốn tháng qua cố bám chiếc ghế Chủ tịch Hội VHNTBĐ (mặc dù đã có QĐ của UBND tỉnh BĐ điều động sang công tác khác) nên bằng mọi cách cố khuếch trương tiếng tăm của mình như qua báo LĐCT nâng mình sánh vai với các bậc tiền nhân rồi nay đùng một cái đạt giải nhất thơ Tạp chí VNQĐ. Dư luận có quyền đặt câu hỏi với Ban giám khảo Cuộc thi thơ văn Tạp chí VNQĐ: Tại sao một bài thơ tầm thường như HPTLĐ lại đạt giải A ?
 Trở lại bài thơ HPTLĐ vừa mới được công bố đã bị đông đảo bạn đọc chê bai không tiếc lời
  http://quechoablog.wordpress.com/ nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã viết:

"Xin quý bạn đọc cùng chúng tôi xét tiếp "bài thơ" giải A :"Hào phóng thềm lục địa" của một "trạng nguyên thơ" khác là nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng chủ tịch hội văn nghệ tỉnh Bình Định. Nguyễn Thanh Mừng đã từng có thơ hay. Chúng tôi từng có bài khen ngợi một tập thơ của Nguyễn Thanh Mừng cách đây khá lâu. Nay Nguyễn Thanh Mừng bỏ giọng thơ chân mộc vốn có là sở trường của mình để thử bút qua loài thơ sở đoản là thơ chính luận thơ lý sự thơ làm dáng cách tân làm dáng uyên bác. Xin trích mười "câu thơ hiện đại"- theo trường phái  "nói toẹt ra- phi hàm xúc" trong bài " Hào phóng thềm lục địa" của Nguyễn Thanh Mừng để quý bạn đọc xét xem nó có phải là thơ hay không :
"Chúng tôi đã lùa rất nhiều hình ảnh sang trọng của đại dương trút vào vần điệu xôm trò của những bữa tiệc thơ/ Nào yến sào ngọc trai nào đồi mồi san hô nào cánh buồm tung mây ra khơi vào lộng/ Tuy nhiên hoa thả xuống nghĩa trang trong lòng biển Đông/ Và câu chữ dâng lên linh hồn các anh-những người lính biệt tăm giữa sóng cao gió rộng/ Dường như hãy còn quá mỏng/ Dù điều ấy có thể các anh không quan trọng/ Giữa trập trùng tình thế nguy nan các anh vật lộn cùng bão tố đại dương/ Sau dòng điện nghẹn ngào về bộ chỉ huy gửi lời chào vĩnh biệt/ Chúng tôi vẫn trùm chăn đọc sách/ Chúng tôi vẫn mở vi tính làm thơ..."

Nguyễn Thanh Mừng cứ kể lể dông dài vớ vẩn như thế suốt 108 lần xuống dòng với một giọng điệu giả cầy cách tân làm dáng hiện đại uốn éo cầu kỳ ngô nghê sáo mới...một cách rất khó chịu tịnh chẳng thấy câu nào có thể gọi là câu thơ ?
"

Đọc bài HPTLĐ cuả NTM tôi lại nhớ những câu thơ của Chế Lan Viên:
 


"Tôi đến Nha Trang ngắm trời bể đẹp
Có hay đâu hang Pắc Bó gió lùa
Giường lãnh tụ là hai hàng đá ghép
Mảnh áo chàm Bác mặc quá đơn sơ

Đất nước sắp đổi thay rồi mà tôi chẳng biết
Người thay đổi đời ta đã về kia ta vẫn không hay
Tôi vẫn khép phòng văn hì hục viết
Nắng trôi đi oan uổng biết bao ngày"

(Người thay đổi đời tôi Người thay đổi thơ tôi)

Học theo kiểu viết ấy nhưng tâm Nguyễn Thanh Mừng không sáng nên những câu thơ cứ rối mù từ đầu đến cuối bài chỉ lặp đi lặp lại một điệp khúc : Các anh......... Chúng tôi.......
Chúng tôi quá nhỏ nhoi trước các anh. Những danh hiệu cao quý hãy xin dành cho các anh...


"Giữa trập trùng tình thế nguy nan các anh vật lộn cùng bão tố đại dương
Sau dòng điện nghẹn ngào về bộ chỉ huy gửi lời chào vĩnh biệt
Chúng tôi vẫn trùm chăn đọc sách
Chúng tôi vẫn mở vi tính làm thơ
Thả vào diễn đàn sấm rung chớp giật
Những siêu thực những tượng trưng những hậu hiện đại những tân hình thức
Bên cạnh việc đem tên những hành tinh lộng lẫy trên dải thiên hà ra mà lăng xê nhau
Thậm chí ai đó còn mang những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể con người ra mà phỉ báng nhau
Dù điều ấy các anh không hề biết

.......................................................

Ngày nào các anh đã chọn lựa cho mình một tuổi trẻ hiên ngang trước thềm lục địa lênh đênh
Ngày nào các anh đã ăn nhín nhịn thèm giành nước ngọt và sữa đường cho những nạn nhân bốn phương trời các anh vừa cứu sống
Ngày nào các anh ươm bầu bí trong mây trồng rau trên sóng
Chúng tôi rồng rắn trước thiên đình
Dựng một khát khao gây men hùng hồn cho đàn voi tư tưởng
Chui qua lỗ kim trại sáng tác Đà Lạt Đại Lải Nha Trang Tam Đảo Vũng Tàu
Thậm chí đôi lúc cao hứng còn nhân danh đại diện cho dân tộc và nhân loại thề độc lúc lồm cồm trong căn phòng điều hoà rượu bia ngất ngưởng
Những giá trị trường tồn của muôn đời sẽ được cất cánh bi hùng trong trường ca và tiểu thuyết trường thiên
Nếu không trao cho chúng tôi giải Nobel
Viện Hàn lâm Thuỵ Điển đích thị đồ mù loà
Kẻ nảy mực cầm cân hoá quân thối tha vất vưởng

.........................................................


Chúng ta hãy bình tâm đọc những vần thơ cháy bỏng tâm can của nhà thơ chiến sĩ Nguyễn Việt Chiến khi viết về những mất mát hy sinh của những chàng trai những người mẹ... vì độc lập tự do của Tổ Quốc:

"Đêm đêm
những người con ngỡ đã đi thật xa
đang lặng lẽ trở về
họ lẫn vào gió vào sương đêm
không cần an ủi
họ chẳng ồn ào như lời ca sôi sục ngày ra đi

..........................

Mẹ lại thấy chúng con về
như cánh cò tuổi thơ lưu lạc
đã bao ngày phải xa rời thôn ổ yêu thương
chúng con trở về tìm lại
giọt nước mắt xót xa và đắng cay của mẹ

........................

Mẹ đã sống dưới mưa phùn ảm đạm
những ngày dài nghèo đói quắt quay
Mẹ thiếu sữa sinh đứa con thiếu tháng
Tổ quốc xanh xao Tổ quốc hao gầy

..........................

và ở hai đầu đêm võng mắc dọc rừng già
trăng cũng sốt rét rừng như ta sốt
trăng mất máu như bạn ta thủa trước
dọc cánh rừng na-pan

sông Thạch Hãn
nước mùa này còn ấm
và các anh trong suốt
những người hy sinh thời gian lao

mây Quảng Trị
mùa này vẫn một màu huệ trắng
trên Cổ Thành
như ngày các anh ngã xuống
những người hy sinh thời gian lao

Và mưa gió Trường Sơn
mùa này vẫn tắm gội
những người con nằm lại
thời đất nước gian lao

những cánh rừng cuối thu ngủ dưới mưa phùn
đất nước tôi những người nằm trong đất
chất phác như bùn hồn nhiên như cỏ
buồn đau không còn thở than

những ngọn sóng đất đai lưu giữ mọi thăng trầm
người chép sử ngàn năm là bùn đất
kiên trì và nhẫn nại
máu của người là mực viết thời gian."    


 Ngôn ngữ bài thơ HPTLĐ của NTM khua leng keng như âm thanh của cái chuông gió treo trước cửa một thứ tạp âm không đọng lại gì trong lòng người đọc. Người viết nhập vai một cách giả tạo nên đọc lên rất sượng sùng.Nói cách khác đó là một thứ xảo ngôn.
Còn bài thơ TĐNGL của NVC ngôn ngữ chân thành nghe như nhịp đập trái tim trong lồng ngực Tổ Quốc dân tộc làm ta rung động và nổi da gà trong từng câu chữ. Những vần thơ bi tráng như thế khiến người đọc phải nhìn lại mình phải sống xứng đáng hơn với thế hệ cha anh lớp người không tiếc máu xương vì độc lập tự do của Tổ quốc. Đó mới đích thị là THƠ.
 
Mà cũng đúng thôi xuất phát hai bài thơ từ hai hoàn cảnh trái ngược nhau:
Một người vì sự phát triển và thịnh vượng của đất nước mình dám viết bài vạch trần tội ác của bọn tham nhũng và trước tòa dõng dạc tuyên bố rằng mình vô tội... dù biết sau đó mình sẽ gánh chịu nhiều đau khổ cho bản thân( Nguyễn Việt Chiến )
Còn một người thì sẵn sàng triệt hạ đồng nghiệp mình vì bả vinh hoa phú quý.
Người ta nói văn là người. Xét về mặt này rõ ràng hai bài thơ ở về hai cực khác nhau.
Công bằng mà nói bài thơ TĐNGL chưa thật xuất sắc nhưng bỏ xa các bài thơ giài A lần này.
Vậy thì có hay không những vụ "đi đêm"? 


VNT




Giải B:
THỜI ĐẤT NƯỚC GIAN LAO


 

Chúng đã ngủ cả rồi
những con hươu bị bóng đêm săn đuổi
chúng đang gác cặp sừng lên vầng trăng cuối tháng
rồi nằm mơ về một cánh rừng
không có thuốc đạn và súng săn

Họ đã ngủ cả rồi
những người lính bị chiến tranh săn đuổi
họ nằm mơ gặp lại bầy hươu
gác sừng lên người bạn vô danh
trên cánh rừng đã chết

Chỉ còn lại vầng trăng và giấc ngủ
chỉ còn lại dấu vết cuối cùng của bầy hươu bị săn đuổi
chỉ còn lại câu thơ thầm lặng
về những người đã ra đi

chỉ còn lại những gì không còn lại
bởi người đau đớn nhất sau chiến tranh
không ai khác ngoài mẹ của chúng ta
những đứa con không trở về
hòa bình dưới mưa phùn
được đắp bằng cỏ non và nước mắt

*
*   *

Đêm đêm
những người con ngỡ đã đi thật xa
đang lặng lẽ trở về
họ lẫn vào gió vào sương đêm
không cần an ủi
họ chẳng ồn ào như lời ca sôi sục ngày ra đi

họ còn nguyên tuổi trẻ
những người lính chưa tiêu phí một xu mơ ước
chưa tiêu hoài một đồng thanh xuân

họ trở về tìm lại
trang sách học trò đêm đêm còn thao thức
trên cánh đồng tiếng Việt ngàn năm

Mẹ lại thấy chúng con về
như cánh cò tuổi thơ lưu lạc
đã bao ngày phải xa rời thôn ổ yêu thương
chúng con trở về tìm lại
giọt nước mắt xót xa và đắng cay của mẹ

một bên là núi sông ngăn cách
còn bên kia là bóng đêm chiến tranh
vẫn biết đạn bom không có mắt
vẫn biết hận thù không thể phân biệt nổi
đâu là hoa sen và đâu là bùn tối
nhưng các anh vẫn phải ra đi

các anh phải ra đi
lời ru chùa Tây Phương
những La Hán mặt buồn
người thợ mộc xứ Đoài
lấy thân xác hom hem của mình làm mẫu vẽ
ba mươi sáu dẻo xương sườn
réo rắt tấu lên bản đàn tam thập lục
người gẩy đàn thì đau đớn
mà bản nhạc viết cho đàn lại reo vui

*
*   *

Mẹ đã sống dưới mưa phùn ảm đạm
những ngày dài nghèo đói quắt quay
Mẹ thiếu sữa sinh đứa con thiếu tháng
Tổ quốc xanh xao Tổ quốc hao gầy

Mẹ có mặt trong dòng người nhẫn nại
lặng lẽ xếp hàng từ mờ sớm tới đêm hôm
Mẹ lần hồi thời cơm tem gạo phiếu
nuôi lớn những người con
rồi gửi tới chiến trường

Mẹ đã khóc lúc rời ga Hàng Cỏ
những đoàn tầu hun hút tuổi hai mươi
một thế hệ hồn nhiên không biết chết
chưa từng yêu khi gục ngã cuối trời

Mẹ ở lại với sông Hồng tần tảo
áo phù sa lam lũ tháng ngày
câu quan họ cất trong bồ thóc cũ
sông Cầu trôi như một tiếng thở dài...

*
*   *

Tàu xuyên đêm
tiếng gió xé bánh xe lăn quần quật
đêm nay họ trở lại một thời gian lao
đường vào Nam hun hút những chuyến tầu
máu rất đỏ tuổi hai mươi nằm lại
câu hát bảo:
tuổi hai mươi những người đi trẻ mãi
câu thơ bảo:
đất nước hình cánh võng mẹ ru ta

và ở hai đầu đêm võng mắc dọc rừng già
trăng cũng sốt rét rừng như ta sốt
trăng mất máu như bạn ta thủa trước
dọc cánh rừng na-pan

sông Thạch Hãn
nước mùa này còn ấm
và các anh trong suốt
những người hy sinh thời gian lao

mây Quảng Trị
mùa này vẫn một màu huệ trắng
trên Cổ Thành
như ngày các anh ngã xuống
những người hy sinh thời gian lao

Và mưa gió Trường Sơn
mùa này vẫn tắm gội
những người con nằm lại
thời đất nước gian lao

những cánh rừng cuối thu ngủ dưới mưa phùn
đất nước tôi những người nằm trong đất
chất phác như bùn hồn nhiên như cỏ
buồn đau không còn thở than

những ngọn sóng đất đai lưu giữ mọi thăng trầm
người chép sử ngàn năm là bùn đất
kiên trì và nhẫn nại
máu của người là mực viết thời gian.    

Nguyễn Việt Chiến

KHI THƠ DỞ LÊN NGÔI

(Báo động về một cuộc thi thơ giết thơ)

TRẦN MẠNH HẢO

Cuộc thi thơ văn của tạp chí Văn Nghệ Quân đội hai năm 2008-2009 vừa được báo chí loan tải ( 7-01-2010) đã kết thúc và thành công rực rỡ. Thậm chí có trang web www.lethieunhon.com còn tung hô hai nhà thơ được giải A về thơ là Nguyễn Linh khiếu và Nguyễn Thanh Mừng là "hai trạng nguyên thơ" (!). Công bằng mà xét quả là cuộc thi thơ này đã "thành công rực rỡ" với bài thơ hay "Thời đất nước gian lao" của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến ( giải B) và chùm thơ hay ba bài của nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh ( giải C)  : "Trời đói chim" "Mùa thu ảo" "Sóng"...

Có lẽ ban chấm giải cuộc thi thơ văn lẫy lừng này cân nhắc khá kỹ lưỡng nên giải truyện ngắn không có trạng nguyên chỉ có bảng nhỡn cử nhơn tú tài mà thôi. Riêng giải thơ đã phát hiện được hai tài năng là hai trạng nguyên : Nguyễn Linh Khiếu với hai bài viết về bộ đội và chiến tranh cách mạng: "Những thiếu nữ ngoại quốc đứng khóc ở Sơn Mỹ" "Hoa mộc miên" và Nguyễn Thanh Mừng với bài thơ văn xuôi khá dài viết về các chiến sĩ hải quân hi sinh ngoài biển đảo: "Hào phóng thềm lục địa". Chúng tôi xin mạn phép bàn về ba bài thơ của hai trạng nguyên thơ này.

Chúng tôi đã đọc đi đọc lại ba bài thơ "giải A" trạng nguyên này đến hơn mười lần mà vẫn cứ thấy 32 câu thơ của Nguyễn Linh Khiếu và 108 câu thơ của Nguyễn Thanh Mừng không thể gọi là thơ trừ hai câu này của Nguyễn Linh Khiếu còn tạm gọi là thơ : " người xa nhà rượu ngô như lửa đêm đông/ thanh vắng vẳng tiếng hoa tầm tã"( Hoa mộc miên biên giới). Nhiều lần trong các bài phê bình thơ chúng tôi đã viết : trong thơ có nói nhưng chỉ là những câu nói suông thôi thì không thể gọi là thơ. Ba bài thơ của hai tác giả trạng nguyên thơ trên chỉ là những câu nói tầm thường bình thường được xuống dòng liên tù tì thì sao có thể gọi là thơ ?

Chúng tôi xin trích bài "Những thiếu nữ ngoại quốc đứng khóc ở Sơn Mỹ" của Nguyễn Linh Khiếu: Đây là khổ thơ thứ nhất không thấy câu nào gọi là thơ : "một sớm mai miền Trung thanh bình/ cây cối tốt tươi đang mùa đơm hoa kết trái/ tôi thấy những thiếu nữ ngoại quốc đứng khóc ở Sơn Mỹ/ nước mắt ròng ròng tội nghiệp họ níu ríu ôm nhau"

Đây là khổ thứ hai cũng chẳng tìm thấy câu nào là câu thơ : "những thiếu nữ ngoại quốc đứng khóc ở chứng tích Sơn Mỹ/ những da trắng da vàng da đen da đỏ/ họ đến từ đâu trên trái đất này/ có ai người Mỹ người Pháp người Nhật người Tàu và người Hàn quốc/ chiến tranh để lại đất này biết bao chứng tích đau thương"

Đây là khổ thứ ba của bài thơ cũng chẳng tìm thấy một câu thơ nào toàn là những lời nói tầm thường : nói toẹt ra : "buổi sáng một giải miền Trung nắng gió thanh bình/ những thiếu nữ ngoại quốc ôm nhau thảm thiết/ nơi đây một buổi sáng lính Mỹ đã tàn sát 504 người dân vô tội/ xác của họ vẫn nằm rải rác quanh đây/ hồn của họ vẫn xếp hàng quanh chứng tích/ mắt của những người bị giết vẫn nhìn ta im lìm"

Đây là khổ thứ tư (khổ cuối cùng) của bài thơ cũng chẳng tìm thấy một câu thơ :"những thiếu nữ ngoại quốc đứng khóc ở chiến tích Sơn Mỹ/ có ai là người Mỹ người Pháp người Nhật người Tàu và người Hàn Quốc/ còn khóc được là còn trong sạch/ nước mắt có ngăn được tội ác/ nước mắt có xoa dịu chứng tích đau thương"

Cái gọi là "bài thơ" trên của Nguyễn Linh Khiếu không có tứ không có hình tượng hình ảnh tượng trưng nào không có nghĩa bóng ( nghĩa ẩn- đa ngữ nghĩa) chỉ có những câu nói chăm xuống dòng sao có thể gọi là thơ ? Hay là vì chúng tôi người trần mắt thịt không có "long nhãn" như các vị trong ban chấm giải nên không thấy cái hay tuyệt vời của bài tấu được gọi nhầm là thơ trên đây?

Xin quý vị cùng chúng tôi xét tiếp bài thơ được giải A thứ hai của Nguyễn Linh Khiếu : "Hoa mộc miên biên giới". "Bài thơ" này Nguyễn Linh Khiếu lấy tứ ( đạo thơ) của các bài thơ :"Hai sắc hoa ti gôn ( TTKH) "Máu và hoa" ( Tố Hữu) "Thời hoa đỏ" ( Thanh Tùng) " Mồ anh hoa nở" ( Thanh Hải)...làm tứ thơ của mình. Chủ đề máu nở thành thành hoa đã thành quá sức sáo mòn trong thơ kim cổ; nay Nguyễn Linh Khiếu lặp lại rằng anh đến biên giới gặp các chiến sĩ biên phòng thấy hoa mộc miên đỏ rực và phát hiên ra : máu của các chiến sĩ biên phòng từ nghìn năm nay đã nở thành hoa ! Nhưng nếu sự lặp lại hình tượng trong thơ của những nhà thơ khác nơi Nguyễn Linh Khiếu được viết bằng xúc cảm làm mới lại bằng hình ảnh ...thì nó đã đi một nhẽ. Đằng này với lối viết "nói toẹt ra" Nguyễn Linh Khiếu đã "có công"đóng góp vào kho tàng thơ dở một bài thơ quá dở. Cái gọi là "bài thơ" này của Nguyễn Linh Khiếu còn quá tệ ở chỗ ngôn từ của anh quá cũ quá sáo mòn ( sáo cũ) nghe rất "cải lương" : "rực đỏ tâm can" "một trời biên viễn" "ròng rã ngàn năm" "ngàn năm tê tái"...Chúng tôi không muốn làm khổ bạn đọc bằng cách trích lại những câu nói tầm thường năng xuống dòng này trong " Hoa mộc miên biên giới" được mạo nhận là thơ (!)

Xin quý bạn đọc cùng chúng tôi xét tiếp "bài thơ" giải A :"Hào phóng thềm lục địa" của một "trạng nguyên thơ" khác là nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng chủ tịch hội văn nghệ tỉnh Bình Định. Nguyễn Thanh Mừng đã từng có thơ hay. Chúng tôi từng có bài khen ngợi một tập thơ của Nguyễn Thanh Mừng cách đây khá lâu. Nay Nguyễn Thanh Mừng bỏ giọng thơ chân mộc vốn có là sở trường của mình để thử bút qua loài thơ sở đoản là thơ chính luận thơ lý sự thơ làm dáng cách tân làm dáng uyên bác. Xin trích mười "câu thơ hiện đại"- theo trường phái  "nói toẹt ra- phi hàm xúc" trong bài " Hào phóng thềm lục địa" của Nguyễn Thanh Mừng để quý bạn đọc xét xem nó có phải là thơ hay không :
"Chúng tôi đã lùa rất nhiều hình ảnh sang trọng của đại dương trút vào vần điệu xôm trò của những bữa tiệc thơ/ Nào yến sào ngọc trai nào đồi mồi san hô nào cánh buồm tung mây ra khơi vào lộng/ Tuy nhiên hoa thả xuống nghĩa trang trong lòng biển Đông/ Và câu chữ dâng lên linh hồn các anh-những người lính biệt tăm giữa sóng cao gió rộng/ Dường như hãy còn quá mỏng/ Dù điều ấy có thể các anh không quan trọng/ Giữa trập trùng tình thế nguy nan các anh vật lộn cùng bão tố đại dương/ Sau dòng điện nghẹn ngào về bộ chỉ huy gửi lời chào vĩnh biệt/ Chúng tôi vẫn trùm chăn đọc sách/ Chúng tôi vẫn mở vi tính làm thơ..."

Nguyễn Thanh Mừng cứ kể lể dông dài vớ vẩn như thế suốt 108 lần xuống dòng với một giọng điệu giả cầy cách tân làm dáng hiện đại uốn éo cầu kỳ ngô nghê sáo mới...một cách rất khó chịu tịnh chẳng thấy câu nào có thể gọi là câu thơ ?
Chúng tôi chẳng đặng đừng mà viết bài báo nhỏ này để hỏi ban chấm giải thơ cuộc thi thơ hai năm ( 2008-2009) của tạp chí Văn Nghệ quân đội rằng các vị mở cuộc thi này nhằm thi thơ hay hay là thi thơ dở? Nếu là mục đích cuộc thi chọn lấy thơ hay làm giải nhất ( giải A) thì cuộc thi thơ này đã thất bại hoàn toàn. Còn nếu mục đích của cuộc thi này nhằm chọn lấy thơ dở tôn vinh thơ dở thì quý vị đã thành công mỹ mãn. .

Sài Gòn ngày 10-01-2010

(Ngun: quechoablog)


video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Bình luận


vongoctho
    

13/02/2011 18:45:01

Càng đọc càng thấy thêm buồn
Văn chương sao giống con đường quan tham
............

Hãy tin tưởng NMQ à văn chương chân chính vẫn đẹp và cao thượng.

NMQ
    

11/02/2011 10:02:09

Võ Ngọc Thọ

Càng đọc càng thấy thêm buồn
Văn chương sao giống con đường quan tham
Quan vua có bị nhúng chàm
Vẫn còn nhiều kẻ bám quanh tanh rình
Thương cho những kẻ quang minh
Lại bị vùi dập cũng đành...thế thôi !

Có thể bạn sẽ thích